Showing posts with label Chuyên đề TÂN NHẠC VIỆT. Show all posts
Showing posts with label Chuyên đề TÂN NHẠC VIỆT. Show all posts

4.9.13

TÂN NHẠC:KHỞI THỦY CHO NHẠC VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI



Nền nhạc Việt hiện đại được đánh dấu bằng việc ra đời của âm nhạc cải cách(Hay còn gọi là Tân nhạc-trong bài viết này tôi dùng thuật ngữ Tân nhạc (TN) để nói đến âm nhạc cải cách của cha ông chúng ta và chỉ đóng khung lại trong phạm vi ca khúc-một thể loại thân thuộc nhất của người Việt).Nghiên cứu và ôn lại Tân nhạc cũng là một cách tốt nhất có thể thấu hiểu và nhận diện lại một cách sâu sắc hơn nền nhạc Việt hôm nay,thấy rõ hơn con đường nào sẽ mở ra tương lai cho chúng để kế thừa và tiếp tục tiến trình hiện đại hoá nhạc Việt lên một tầm cao mới.

Tân nhạc hoài thai trên sân khấu cải lương

Ta biết rằng TN bắt đầu hình thành phôi thai với phong trào dùng nhạc Tây để soạn lời Việt.Người khởi xướng trong phong trào này là Tư Chơi(Nghệ sĩ Huỳnh Hữu Trung).Khoảng năm 1934 Tư Chơi đã dựa theo hình thức Opérrette(Một hình thức ca kịch như opéra nhưng có qui mô nhỏ hơn)để viết nên những ca kịch vui bằng cách lấy những điệu nhạc Tây để soạn lời Việt.Chúng đã được Tư Chơi cho phụ diễn trên các đoàn cải luơng thời đó như Phước Cương…Ông còn dùng những bài hát bình dân của Tây để viết những bài ca có nội dung yêu nước.Chẳng hạn như bài:”Hời hợi đồng bào tỉnh dậy mau.Tỉnh dậy mau.Nườc ta đã mất rồi!...” theo điệu bài frère Jacques của Pháp.Các ca sĩ KimThoa,Ái Liên là những người ủng hộ và hát những bài này cho Tư Chơi.
Nhưng qua năm 1938 thì những bài nhạc kiểu này không còn mấy hấp dẫn nữa.Người nghe,nhất là những người nặng tình dân tộc muốn có một loại nhạc”thuần Việt” không phải mượn nhạc Tây để đặt lời,khi hát lên nghe đầy đủ linh hồn của quê hương từ lời ca cho đến ca từ,nhất là phải 100% made in Việt Nam.Trước đòi hỏi mang tính lịch sử đó,TN bước sang một bước ngoặt mới

Tân nhạc của người Việt buổi đầu

Lịch sử ghi nhận một thanh niên Huế,có giọng hát ténor được liệt vào hàng đầu Đông dương lúc bấy giờ tên là Nguyễn Văn Tuyên,đang làm việc cho Pháp ở Sài Gòn,đã tự mình viết ra những giai điệu đầu tiên theo nhạc học của châu Âu.Thật ra,Nguyễn Văn Tuyên đã được sự cố vấn và giúp đỡ của một nhà thơ công tác tại đài phát thanh Radio Indochine là Nguyễn Văn Cổn.Thi sĩ này đã giúp NVTuyên soạn lời cho các bài hát cũng như đưa thơ của mình cho NVTuyên phổ nhạc;đi vận động các giới chức sắc ủng hộ và tổ chức các buổi diễn thuyết kết hợp trình diễn các bài hát TN tiên phong.Chính ông Cổn cũng là người đặt cho loại nhạc Việt mới này cái tên Âm nhạc cải cách.
NVTuyên đã có 2 cuộc vận động và giới thiệu TN ra miền Bắc tại Hà Nội và Hải Phòng.Lúc đó,Hai bài hát”Bông Cúc Vàng”và’Một kiếp hoa”rất được hoan nghênh nhưng cũng có đó đây những ý kiến phản bác hoặc chê bai.Tuy nhiên báo giới lại hoàn toàn ủng hộ ông và trong số ra ngày 7-8-1938(có tài liệu ghi ngày 6/7),tờ báo lớn Ngày Nay đã cho đăng các bài hát của NVTuyên và hết lời ca tụng nó.
Những bài hát của NVTuyên chưa được coi là xuất sắc về mặt nghệ thuật lắm,phải đợi đến khi một lớp tác giả TN mới ra đời ở Hà Nội,Hải Phòng,Nam Định… thì TN mới thật sự là những bản nhạc Việt có dấu ấn sáng tạo.Dương Thiệu Tước ở Hà Nội cùng với các nhạc sĩ trẻ bấy giờ như Thẩm Oánh,Lê Yên,Văn Chung… trong ban nhạc Myosotis đã cho ra đời hàng loạt bài hát lẫy lừng thời bấy giờ như:Tâm hồn anh tìm em,Thuyền mơ(Dương Thiệu Tước)Bóng ai qua thềm,Trên thuyền hoa(Văn Chung)Khúc yêu đương,Hồ xuân(Thẩm Oánh)Cô lái thuyền mơ(Dzoãn Mẫn)…Ở Nam Định thì có Đặng Thế Phong tài hoa với “Con thuyền không bến”được xem như là một tác phẩm đặc sắc nhất cho đến bây giờ nhờ kết hợp nhuần nhị ngũ cung Việt với nhạc Tây(mà người viết bài này sẽ có một phần riêng bàn về sáng tạo của ông trong một bài khác về những gương mặt TN)

Phát triển và rẽ nhánh:Tình ca và Hùng ca.

Bước qua năm 1944,TN đã phát triển khá mạnh và nên hình nên vóc tạm đầy đủ.Nó thể hiện qua việc chia nhánh TN thành hai giòng chảy nhạc tìnhnhạc hùng.

Lưu Hữu Phước cùng Hoàng Quý là những người khởi xướng và cầm chịch thông qua hai nhóm là Tổng hội sinh viên ở Hà Nội và Đồng Vọng ở Hải Phòng với những bài ca hướng đạo và lịch sử ca:Bạch Đằng Giang,Bạn đường…(Lưu Hữu Phước)Bóng cờ lau,Nước non Lam Sơn…(Hoàng Quý).Đây có thể xem như sự khơi nguồn cho giòng nhạc truyền thống cách mạng sau này,đóng góp cho di sản ca khúc Việt một diện mạo riêng,độc đáo kể từ cuộc kháng chiến chống Pháp rồi trưởng thành mạnh mẽ ở miền Bắc và các chiến khu miền Nam trong giai đoạn thực dân mới của Mỹ quốc(Trong bài viết này xin tạm ghép luôn nhạc cách mạng vào giòng hùng ca cho đến khi có hiệp định Geneve 1954)

Nhạc tình,ngoài những nhạc sĩ trong nhóm Myosotis kể trên và Đặng Thế Phong thì ở Hải Phòng xuất hiện thêm một tài hoa nữa là Lê Thương với các ca khúc vang danh thiên hạ như:Bản đàn xuân,Nàng Hà Tiên,Thu trên đảo Kinh Châu,Bên bờ Đà Giang…Đặc biệt bài Thu trên đảo Kinh Châu được viết trên thang âm Nhật là nổi tiếng nhất vì tính phổ biến đại chúng của nó(Có tư liệu còn khẳng định dù mang âm điệu Nhật nhưng bài này đã đưa vào làm nhạc mục của hát Quan họ Bắc Ninh).Đất Hải Phòng còn cống hiến thêm cho TN một đệ nhất nhạc sĩ tình ca là Văn Cao-một nghệ sĩ đa tài(Thơ,Hoạ,Nhạc)nhưng khá lận đận-với những tình ca mùa thu thuộc vào hàng đẹp nhất và buồn nhất của nhạc Việt(Buồn tàn thu,Thu cô liêu,Suối mơ…)(Cả hai cây cây đại thụ này sẽ được nhận định chi tiết hơn trong loạt bài kế tiếp)

Đến năm 1945 và sau đó,TN Xem như đạt gần tới đỉnh điểm phát triển của nó.Đã trãi qua những thử thách và thu lượm được khá nhiều kinh nghiệm,TN còn được quãng bá rộng thêm ra nhờ những công cụ kỹ thuật hiện đại như:máy hát,đài phát thanh,in ấn(nhạc tập)…Các hình thức đại nhạc hội cũng nở rộ thêm nhiều khiến TN trở thành một trào lưu cuồn cuộn với những thành quả và hệ luỵ của nó.
Và qua thập niên 50 TN như quả chín rộ trên cành-bên cạnh hùng ca,cách mạng ca và tình ca còn có thêm một góc nhỏ,tạm goi là nhạc hài hước của Trần Văn Trạch.TN được dùng phụ diễn cho chiếu bóng(lúc đó đã du nhập và bành trướng mạnh ở thị thành)và được nhận diện dưới nhiều”đẳng cấp”khác nhau:nhạc thương phẩm,nhạc bình dân,nhạc thời trang…(Ta thấy nó cũng có gì đó tương tự với nhạc trẻ bây giờ:phát triển,chia nhánh rồi phân tán và loạn phát)

Lúc này TN không còn quanh quẩn trong phố thị nữa mà đã tràn về thôn quê một cách mạnh mẽ.


(Kỳ sau:Bài 2-“Tân Nhạc ở Sài Gòn tạm chiếm”)

TÂN NHẠC Ở SÀI GÒN

Máy hát với hai loại băng reel to reel(băng lớn) và cassette(băng nhỏ) đã theo quân đội Mỹ vào miền Nam,không những thế,đi kèm theo các khí tài chiến tranh là…một loại nhạc mới rồi đây sẽ làm mưa làm gió:nhạc Pop-Rock(mà người ta quen gọi là nhạc trẻ).




Trong khi đó hàng loạt đài phát thanh mọc lên khắp các vùng thị thành cũng như sự ra đời khá nhiều những nhà xuất bản đã tăng thêm sức sống cho TN.Chính những yếu tố này đã làm cho TN ở Sài gòn phát triển rất mạnh mẽ,và như bài trước đã nói,nó theo máy hát,đài phát thanh,nhạc tập tuôn chảy cả về nông thôn làm nên một sức sống toàn diện cho TN.Đến giữa thập niên 60 với sự xuất hiện của phòng trà ca nhạc thì TN ở Sài Gòn coi như đã trưởng thành toàn diện với những thế hệ ca sĩ,nhạc sĩ mới.

Nhạc băng,nhạc tập và đài phát thanh:đôi hia bảy dặm cho TN

Những cái tên Sony,Akai,Pionneer…đã trở nên quen thuộc với dân chơi máy hát.Những cuộn băng reel to reel hay cassette cứ quay đều những bài hát TN trên những thương hiệu toàn cầu đó.Lúc này là lúc các hãng băng phất lên như là một cộng sinh vừa là một động lực cho TN.Giai đoạn này phải kể đến 3 đại gia là Asia,Oria và Lê Văn Tài(về sau lấy tên khác là Việt Nam).Họ không chỉ thu thanh cổ nhạc như trước kia mà công việc chính của họ bây giờ là sản xuất TN.Đây là một công việc thu hoạch nhiều tiền.Một chương trình TN lúc đó(thập niên 60) bình quân có thể tiêu thụ từ một vạn đến vạn rưỡi đầu băng các loại(to hoặc nhỏ).(Tình hình tiêu thụ này cũng rất giống với nhạc Việt thuở được gọi là lên ngôi vào giữa thập niên 90 nhưng khoảng gần đây thì một chương trình bình quân chỉ còn tròm trèm…2,3 ngàn băng đĩa được có người mua!)Thấy có ăn nhiều hãng băng thay nhau ra đời:ShotGuns,Trường Sơn(của ca sĩ Duy Khánh),Nhã Ca,Sóng Nhạc(không phải của báo…Sóng Nhạc bây giờ),Hoạ Mi,Sơn Ca…làm cho thị trường băng nhạc TN thêm bùng phát và làm cho các bài hát thêm bay xa trong bầu trời đại chúng.

Ăn theo nhạc băng là nhạc tập.Đó là những tập nhạc in các bài hát đang ăn khách(bây giờ thường gọi là TopTen,Hit),đặc biệt là dạng nhạc bướm chỉ in một bài được ưa chuộng có khổ lớn như giấy A4.Ngọc Chánh lúc này là trùm sản xuất các nhạc in này.Thông thường một bài nhạc bướm ông có thể bán được một vạn bản như chơi.(Còn bây giờ?Khoảng 1,2 ngàn là hết cốt!)
Không thể không nhắc đến vai trò của các đài phát thanh trong việc góp phần bành trướng TN.Âm nhạc muốn phát hành và lăng-xê rộng rãi phải qua đài phát thanh.TN trong giai đoạn này cũng thế.Tuy nhiên nó chịu nhiều sự kiểm soát của chính phủ hơn.TN trên radio bây giờ chia làm ba bộ phận chính:Những bài hát thông tin tuyên truyền phục vụ chế độ đương quyền.Những bài hát thuộc dạng “tử tế” hơn nhưng có ít đất sống trên thị trường.Và cuối cùng-ít hơn-là các bài hát dạng thị trường,thương phẩm,nhạc yêu cầu.Tất nhiên,mạnh nhất trong các nhà đài lúc này là đài Vô Tuyến Việt Nam(Của chế độ VNCH).Biên tập TN cho các đài Phát thanh hồi đó là các tên tuổi:Nguyễn Hiền,Vũ Thành,Trần Dạ Từ…

Nhạc Trẻ (Pop-Rock)

Theo bụi trường chinh đổ bộ vào miền Nam Việt Nam của Mỹ là thứ âm nhạc đang khuynh đảo trên thế giới:Pop-Rock.Thập niên 60 đã chứng kiến Gíơi trẻ Sài Gòn cuồng nhiệt đón nhận nó và TN Sài Gòn có thêm một”thành viên”mới:Nhạc trẻ(một thuật ngữ đặc biệt ở Việt Nam mới có!).Cây đàn điện,dàn trống jazz,Amply lúc này thật là “hot”.Quần áo sặc sỡ,tóc dài làm biếng chải là sành điệu(theo phong cách của tứ quái Beatles).Ban đầu là nghe nhạc Pop-Rock Mỹ-Anh,sau đó là…a lê làm theo.Các ban nhạc trẻ ra đời ngày một nhiều:Enterprise,The Peanuts,CBC,The Uptight,The Hammers,The Dreammers…Ban đầu họ từ mày mò bắt chước từ các băng nhạc,nghe rồi đánh theo như cái máy,sau đó đi diễn chủ yếu cho lính Mỹ nghe.Chính những ban nhạc “bản sao” Âu-Mỹ này đã sản sinh ra một thế hệ ca sĩ mới rất nổi danh mà có người cho đến tận bây giờ còn là thần tượng của nhiều người:Tuấn Ngọc,Khánh Hà,Duy Quang,Elvis Phương,Paolo,Cathy Huệ,Vi Vân…Giai đoạn này người ta không thể bỏ quên Thanh Lan-một ca sĩ có giọng hát sang trọng,dễ thương trưởng thành từ lò đào tạo ca sĩ Việt Nhi với những bài nhạc Âu-Mỹ chuyển soạn lời Việt của Phạm Duy,và cô nàng Julie với giọng hát sôi nổi kiểu Rock khá độc đáo.

Phòng trà ca nhạc

Phòng trà ca nhạc đã xuất hiện lần đầu tiên ở Hà Nội(1946)với cái tên Quán Nghệ sĩ ở đường Bờ Hồ.Lúc này các nhạc sĩ Dương Thiệu Tước,Thẩm Oánh…là cộng tác viên.Nhưng phải đợi đến sau 1954,tại Sài Gòn,phòng trà ca nhạc mới thịnh hành và đóng góp vao việc phát triển TN,như là một cái nôi làm toả sáng nhiều thế hệ ca sĩ và là một trong những mảnh đất để cho các nhạc sĩ phổ biến ca khúc của mình.Chẳng hạn,với những phòng trà ca nhạc thế hệ đầu ở Sài Gòn đã giới thiệu đến công chúng những cái tên quen thuộc:Nguyễn Hữu Thiết-Ngọc Cẩm,Tâm Vấn,Mộc Lan,Anh Ngọc,Thái Thanh…Và còn nhiều nữa những cái tên và chi tiết về các phòng trà ca nhạc Sài Gòn cũng như buổi đầu của nó ở Hà Nội,nhưng đó là nội dung của một bài viết khác mà chúng ta sẽ có dịp quay lại sau trong chuyên đề này.

Các xu hướng của TN Sài Gòn và các nhạc sĩ mới

Góp phần vẽ nên một bức tranh hấp dẫn và đa dạng này của TN là các nhạc sĩ với các tác phẩm,các xu hướng của mình.Họ là:Cung Tiến,Phạm Đình Chương,Vũ Thành,Hoàng Trọng,Văn Phụng,Ngọc Bích,Hoàng Thi Thơ,Trần Ngọc,Y Vân,Anh Bằng,Trùc Phương,Duy Khánh,Trần Thiện Thanh(Nhật Trường)Đỗ Lễ,Lam Phương,Phạm Thế Mỹ,Trầm Tử Thiêng,Anh Việt Thu,Lê Uyên Phương,Ngô Thuỵ Miên,Từ Công Phụng,Nguyễn Ánh 9,Vũ Thành An,Lê Hựu Hà,Nguyễn Trung Cang,…(Trong đó xuất sắc và nổi bật nhất là Phạm Duy và sau đó là Trịnh Công Sơn mà tôi xin hẹn sẽ dành cho ông trọn một bài viết.)
Các tác giả trên chia nhau ra đứng trên các lãnh địa âm nhạc khác nhau như:Tình ca quê hương(Hoàng Thi Thơ…phát triển các làn điệu dân ca để viết các bài hát bình dân trữ tình)Nhạc bán cổ điển hoặc Tân cổ điển (Cung Tiến,Nghiêm Phú Phi,Văn Phụng…ảnh hưởng từ các nhạc sĩ lãng mạn châu Âu như schubert,Chopin,Schuman,Lizt…)Nhạc Trẻ(Lê Hựu Hà,Nguyễn Trung Cang…học tập từ Pop-Rock Âu-Mỹ)Nhạc hài hước(Trần Văn Trạch với nhóm AVT viết mới dân ca thành các bài bình dân vui nhộn và châm biếm)Nhạc khiêu vũ cổ điển(Hoàng Trọng…viết theo các điệu nhảy Tango,Pasodoble…)Nhạc nhảy hiện đại,danh từ lúc này hay gọi là”Kích động nhạc(Khánh Băng…)Nhạc tình và thân phận(Trịnh Công Sơn…)và còn nữa…
Ngoài ra,TN Sài Gòn thời điểm này bên cạnh hiện tượng gọi là sự suy thoái của âm nhạc của các bài hát rẻ tiền với các ca sĩ diễn nhiều hơn hát(nhưng cũng chưa phải lipsync như bây giờ,chẳng qua là trình độ khoa học kỹ thuật lúc bấy giờ chưa cho phép!)còn xuất hiện những phong trào ca nhạc rất tích cực như:Phong trào du ca do Nguyễn Đức Quang,Ngô Mạnh Thu làm đầu đàn,hoặc những phong trào nhạc phản chiến(Trịnh Công Sơn,Miên Đức Thắng),phong trào”Hát cho đồng bào tôi nghe”(Tôn Thất Lập…)
Giai đoạn này xuất hiện một danh từ mới ám chỉ đến những bài tình buồn đang trở nên một mốt nghe nhạc khổng lồ:Nhạc Vàng.Nhạc Vàng được hiểu theo hai nghĩa tán thưởng(Vàng son,có giá trị như vàng)hoặc chê bai(Vàng vọt,yếu đuối,uỷ mị).Rồi chia ra “Vàng sến”(Chủ yếu là các loại nhạc viết theo điệu Bolero,lời ca bình dân học vụ,được xem la Việt hoá”nhuyễn”nhất)với”Vàng sang”.Vì thế nhạc Vàng ôm hết vào mình từ các bài tình ca tiền chiến cho đến các tình khúc mới viết có nghệ thuật hoặc kém sáng tạo nhưng chỉ tội một cái là nó buồn.Buồn muốn …chết.Thế thôi.


(Kỳ tới:Bài 3-Nhìn lại Phòng trà ca nhạc Việt)

NHÌN LẠI PHÒNG TRÀ CA NHẠC VIỆT



Sau năm 1945 người Việt bắt đầu biết đến thú vui mới:nghe nhạc ở phòng trà để thay thế cho một lối nghe nhạc đã hết mốt:hát ả đào của một lớp nho sĩ đã tàn phai.Nhắc lại bài trước đã nói phòng trà ca nhạc(PTCN)đầu tiên của Việt Nam ra đời bên bờ hồ Gươm-Hà Nội, dần dần sau đó PTCN phát triển mạnh hơn ở Sài gòn sau năm 1954.Chính nơi đây,gắn liền với mỗi phòng trà,là cái nôi sản sinh ra nhiều thế hệ ca sĩ Tân nhạc Việt, mỗi người một vẻ với từng phong cách âm nhạc khác nhau.Vì vậy, nói đến sử nhạc ca khúc không thể không nói đến PTCN.


                                                Hình ảnh một phòng trà xưa ở Sài gòn

Thuở ban đầu ở Hà Nội và cố đô Huế.

Sau quán Nghệ sĩ ở Hồ Gươm,Hà nội tiếp tục có thêm những PTCN mới. Có thể kể: Thăng Long (Hàng Bông)Tuyết Sơn(Thợ Nhuộm)Thiên Thai(Hàng Gai)…Ở Tuyết Sơn có ca sĩ Kim Tiêu rất nổi tiếng với các bài hát bất hủ của Văn Cao:Thiên Thai,Trương Chi. Còn ở Thiên Thai là nơi ca sĩ Thương Huyền thành danh với tầm cữ giọng hát khá rộng và gần bằng giọng ca Thái Thanh sau này.

Theo hướng Nam tiến PTCN tiếp tục mọc lên ở đất cố đô mà quán Tam Tinh được nhắc đến nhiều nhất với giọng ca của Ngọc Cẩm. Lúc này những bài hát”Top ten”của PTCN ở xứ Huế là các bài: Con thuyền không bến, Biệt ly, Bẽ bàng,Buồn tàn thu…Rồi chiến tranh bùng nổ khi thực dân Pháp quay trở lại Việt Nam, PTCN mới khai sinh lác đác và là hàng độc đã biến mất, để sau đó nó”phục hưng” trở lại ở Sài gòn.

Phát triển ở Sài gòn.

Sau 1954 một số lớn ca,nhạc sĩ ở miền Bắc vào Sàigòn lập nghiệp. Họ đã gầy dựng lại các PTCN du nhập từ Pháp.
PTCN phát triển mạnh hơn trước chủ yếu là nhờ có nhiều khách tìm đến nghe hơn. Trước kia ở Hà Nội,Huế một đêm đông lắm cũng chỉ có khoảng vài chục người nghe. Nhưng nay thời thế đã mỉm cười: con số lên đến cả trăm.PTCN mở cửa khắp nơi mà vẫn có khách. Tất cả nhờ vào sự phồn vinh của Sài gòn lúc ấy và một số lớn sĩ quan, binh lính VNCH đến đó để giải sầu. Tất cả tạo nên cái mốt: dân sành điệu phải đến phòng trà. Dù là sành điệu giả hay thật. Dù là nghe nhạc thật hay chỉ tìm cõi mơ, cõi tình, cõi dục hoặc chỉ là thói hãnh tiến của một lớp nhà giàu mới gặp thời nhờ chiến tranh thì tất cả đã giúp cho PTCN phất lên và Tân Nhạc nhờ đó có thêm đất để đơm hoa kết trái.




Xin điểm qua một số PTCN: Văn Cảnh(Calmete) Đức Quỳnh(Cao Thắng) Trúc Lâm(Ngô Tùng Châu) Anh Vũ (Bùi Viện)…Sau này, khi chế độ Ngô Đình Diệm cấm khiêu vũ thì một số vũ trường gia nhập thêm vào làng PTCN như: Tự Do, Baccara…Tuy nhiên có 5 phòng trà nổi danh nhất lúc đó là QueenBee, Tự Do, Rizt, Maxim,Đêm Màu Hồng chia nhau ”thống trị”với các ban nhạc lừng danh và các ca sĩ thuộc hàng sao mà nó lăng-xê nên (Các PTCN không chỉ do các nhạc sĩ, ca sĩ mở lên mà còn do những người ngoài giới như nhà văn Mặc Thu với Trúc Lâm, Kiến trúc sư Võ Đức Diên với Anh Vũ)

Cũng xin nói thêm một dạng PTCN đặc biệt nữa là phòng trà sinh viên. Dạng phòng trà này thường do sinh viên mở ra và phục vụ cho chính đối tượng sinh viên, học sinh là chính. Trong đó tên tuổi còn lưu lại ngày nay là quán Văn cạnh trường Đại học Văn khoa (ngày nay là trường ĐH Khoa học-Xã Hội-Nhân văn). Nó được nhắc tới nhiều vì chính nới đây có góp mặt giọng ca liêu trai Khánh Ly. Người cùng với Trịnh Công Sơn sau này tạo nên một hiện tượng lớn cho Tân Nhạc Việt.

Các ngôi sao của PTCN

Đi đôi với Đêm Màu Hồng là Ban Thăng Long với tiếng hát hai bát độ(Sòl-Sól)của Thái Thanh dù không qua lớp luyện thanh nào cả. Họ là một ban nhạc gia đình đúng nghĩa với 4 anh em Phạm Đình Chương (người nổi tiếng với bài nhạc xuân bất hủ: Ly rượu mừng) Phạm Đình Viêm, Thái Hằng và Thái Thanh. Đây là ban nhạc hát bè số một lúc ấy với các nhạc phẩm: Tình Hoài hương, Tình ca (Phạm Duy), Đợi anh về (Văn Chung),Tiếng dân chài (Phạm Đình Chương)…Sau này Thái Thanh sẽ trở thành sao ở vai trò solist mà các tác phẩm ngoại quốc dịch lời Việt mà bà hát như: Trở về mái nhà xưa(Back ro Sorriento)Mối tình xa xưa(Célèbre Valse)Dòng sông xanh(Danube blue)…đã trở thành kinh điển.

Khánh Ly cũng mở phòng trà lấy tên mình sau khi thường xuất hiện ở quán Văn. Khách trí thức rất thích đến nghe bà chủ Khánh Ly hát nhạc Trịnh. Nơi đây giọng ca Khánh Ly càng ngày càng huyền hoặc bay xa.

Ca sĩ Lệ Thu với giọng hát man mác buồn như thu được dân nghe nhạc mến mộ tìm đến ở phòng trà QueenBee (ngày nay vẫn còn đó là một vũ trường) của ca sĩ Ngọc Chánh. Lệ Thu nổi lên với bài”Ngậm ngùi”.

Ban nhạc The Dreams với giọng pha rock của Julie Quang là hàng hiệu của Rizt. Nơi đây ông chủ của nó cũng là một giọng ca có hạng: Jo Marcel với giọng ca rất nam tính và mùi. Tuy mang tên Tây nhưng ca sĩ này là chánh gốc Việt.


                                                                     Ca sĩ Thanh Lan

Các PTCN còn lại là những nơi cho ra lò các giọng ca Thanh Thúy,Thanh Lan, Lệ Thanh, Kim Vui…Giọng ca Thanh Thúy được coi là giọng ca…ma tuý vì cái buồn não nề của nó.Trái lại Thanh Lan thì “teen” hơn với chất nhí nhảnh, dễ thương. Chị trưởng thành nhờ sự đào tạo của lò Việt Nhi do nhạc sĩ Nguyễn Đức hướng dẫn với các bài hát quốc tế lời Việt mà đáng nhớ nhất là ”Bang bang”(Khi xưa ta bé)…và một số bài nhạc Việt nhẹ nhàng khác như Thu Vàng(Cung Tiến)…

Một nét đặc biệt của Tân nhạc Việt là các lò đào tạo ca sĩ thường tạo ra các tên tuổi của mình có chữ đầu giống nhau.Theo tư liệu người viết bài có được thì chữ Ngọc xuất hiện trước(Ngọc Thanh,Ngọc Hà…) rồi đến Minh (Minh Tần,Minh Trang,Minh Diệu…) Sau đó là Phương (Phương Hồng Hạnh,Phương Hồng Quế…)

                                                                          ***

Ngày nay PTCN ở Sài gòn vẫn còn tồn tại nhưng không nhiều nữa. Chắc chắn sự xuất hiện của các sân khấu ca nhạc tạp kỹ với giá cả bình dân và các dạng nhạc dành cho giới trẻ phong lưu trong các quán bar kèm nhảy nhót và lắc lư của các nữ vũ công gợi cảm đã kéo bớt người nghe về các hướng. Tuy nhiên, có thể thấy rõ một điều là các giọng ca ngày xưa ở các phòng trà đều có cá tính riêng (chuyện đẳng cấp chưa bàn tới) và khi nổi tiếng ở PTCN thì họ cũng gần như đương nhiên nổi tiếng ở ngoài xã hội. Ngày nay, công thức đó ít đúng. Nếu bạn đi nghe ở PTCN thường xuyên sẽ không khó nhận thấy nhiều giọng hát còn hay hơn những”ngôi sao”đang tung hoành trên thị trường nhưng họ vẫn là người của bóng tối (bóng tối phóng trà và bóng tối tên tuổi). Đó là sự khác nhau của công nghệ lăng-xê và tính chất nghe nhạc bằng lỗ tai đã chuyển sang “nghe” nhạc bằng mắt(còn tai để nghe nói chuyện và nghe điện thoại di động!). Tân Nhạc thời trước có những giá trị thật,ảo rất tỏ tường nhưng bây giờ thì...

T.M.P

(Kỳ sau:Bài 4-Những gương mặt Tân Nhạc:Đặng Thế Phong)

NHỮNG GƯƠNG MẶT TÂN NHẠC: ĐẶNG THẾ PHONG-NHẠC SĨ BUỒN



Có hàng hàng lớp lớp những gương mặt TN xuất sắc đáng để lớp hậu sinh nhắc đến,nhưng trong chuyên đề này tôi chỉ xin dành riêng mỗi bài để nói đến 3 người mà thôi:Văn Cao,Lê Thương,Đặng Thế phong.Có 3 lý do chỉ nêu được con số hạn chế như vậy.Một-do khách quan,vấn đề tế nhị về chính trị mà có một vài người tạm chưa được phép đề cập đến.Hai-do hạn chế về hiểu biết và tư liệu nên không bàn rộng ra được nhiều người.Và cuối cùng-đây là 3 nhạc sĩ thế hệ đầu tiên của TN đã tạo ấn tượng và tình cảm trong tôi nhiều nhất.Rất mong các bạn sẽ đóng góp thêm cho chuyên đề này nhiểu nhạc sĩ tiêu biểu khác.

Đặng Thế Phong(sinh năm 1918)tuy chỉ mang đến cho TN Việt vỏn vẹn 3 ca khúc:Đêm thu,Con thuyền không bến,Gịot mưa thu nhưng theo tôi hai trong số ba bài đó đều xứng đáng là những kiệt tác bất hủ của tình ca Việt.Ông chỉ viết được ba bài vì ông chỉ sống với nhân gian 24 năm!Câu nói”Tài hoa yểu mệnh”ứng nghiệm vào Đặng Thế Phong không sai một ly.



Ông là người thành Nam,nơi đây cũng là quê hương của những nhạc sĩ tài hoa đầu tiên của TN:Đan Thọ,Bùi Công Kỳ(1919),Hoàng Trọng.Cùng thời với ông là các nhạc sĩ tên tuổi khác:Nguyễn Xuân Khoát(1910)Văn Chung(1914)Nguyễn Văn Thương(1919)Lê Yên(1917)Lưu Hữu Phước(1921)Đỗ Nhuận(1922)Phan Huỳnh Điểu(1924)…Chính lớp nhạc sĩ thế hệ thứ nhất này đã đặt nền tảng cho nhạc Việt qua các tác phẩm danh giá;và sự nghiệp sáng tác của họ đã bắc cầu nối dài từ thời Tân nhạc lãng mạn(Trước 1945) cho đến giai đoạn của nhạc hùng ca rồi lãng mạn cách mạng(1945-1954)đến hiện thực cách mạng(1954-1975),tạo ra một di sản âm nhạc quý báu mà nổi bật nhất là giá trị tư tưởng-lịch sử và nét văn hoá đặc thù Việt Nam.

[Khi viết bài này tôi mới nhận ra một thiếu sót khi lẫn thẩn quên không nhắc đến trong bài trước một nhạc sĩ Tân nhạc lãng mạn rất tài hoa là Đoàn Chuẩn.Xin cho phép tôi được thắp nén nhang xin lỗi ông và nói về ông đôi dòng:Đoàn Chuẩn thường đi đôi với Từ Linh ở tên tác giả(viết lời)là một cặp bài trùng sản sinh ra những xuất sắc phẩm về mùa thu đáng được truyền tụng mãi mãi:Tà áo xanh.Thu quyến rũ,Gửi gió cho mây ngàn bay…kế tục những bài tình thu tuyệt tác của Đặng Thế Phong,Văn Cao.Ông là một người rất amateur đúng điệu công tử Hà thành và rất đa tình với những nét nhạc bay bướm mang hơi huớm lã lơi của tiếng đàn Hạ uy cầm mà ông rất thích sử dụng.Ông khai thác điệu tính trưởng rất hay mang phong cách bán cổ điển Tây phương nhưng nghe man mác rất Việt nhờ những quãng đặc trưng lấy từ nhạc ả đào.Nhạc Đoàn Chuẩn thường ám ảnh tôi khi biết yêu.]

Quay lại với Đặng Thế Phong-cuộc đời của ông rất long đong,dở dang việc học,sống lang bạt kỳ hồ với nhiều nghề khác nhau:dạy nhạc,vẽ tranh cho báo,ca sĩ…Ông lang thang từ Nam Định lên Hà nội,trôi dạt vào Sài gòn rồi qua Nam Vang trước khi quay trở về Hà nội và qua đời tại đó sau khi viết xong bài hát sầu não nuột như chính cuộc đời nhạc sĩ buồn của mình:Giọt Mưa Thu.Ông mất vì bệnh lao do cuộc sống nghèo khổ,lao lực và bôn ba.

Bàn về tác phẩm của ông,mọi người đều thừa nhận rằng ông thuộc lớp các nhạc sĩ tiền phong của âm nhạc lãng mạn Việt với những bản tình ca đầu tiên trong lịch sử rồi sẽ được nhiều nhạc sĩ sau này phát triển trong các dòng chảy tình ca khác.

Nếu như ở bản nhạc đầu tay”Đêm thu”còn mang nặng những âm giaiTây-mặc dù ở phần hai của ca khúc này ông có đưa ngũ cung Việt vào như một kiểu hợp hôn-thì ở bài hát tiếp theo”Con thuyền không bến” sự kết hợp giữa thất cung và ngũ cung mới đạt đến độ chín của tài hoa.
Ngũ cung trong bài này viết theo lối hát sa mạc(Bởi thế nghe buồn xa xăm):mi mi mi mi là rề mi(đêm nay thu sang cùng heo may),la la la la mi sol la(Đêm nay sương lam mờ chân mây)…lung linh đứng bên cạnh những âm điệu Tây phương với những bán âm chênh vênh:la si la đố si la mi(Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng)…Những âm điệu này được ông lồng vào những lệch phách,đảo phách(Syncope)của lối hát ả đào thật lững lơ.
Thật ra đâu phải đợi đến bây giở mà ở Đặng Thế Phong đã có sự đông-tây giao hoà rồi,đó là điều các nhạc sĩ đương đại trên thế giới như Olivier Messiaen,Claude Debussy…đã từng làm trong cuộc hành trình âm nhạc chinh phục những âm điệu châu Á của họ.Có lẽ đây chưa hẳn là do ý thức học thuật gì cao thâm mà theo tôi chính tâm hồn và văn hoá rất Á đông,rất Việt của Đặng Thế Phong đã làm nên sự hoà quyện tự nhiên và thú vị đó!

Phong cách sáng tác này được ông tiếp tục trong ca khúc Giọt mưa thu.Vẫn là thất cung kết hợp nhuần nhị với ngũ cung nhưng trong tác phẩm này ông viết có học thuật hơn khi ứng dụng kỹ thuật métabole(chuyển hệ)làm cho âm điệu bài hát trở nên nhiều màu sắc hơn.Bài này,hồi mới lớn cứ mỗi khi mưa tôi lại hay bật máy cassette lên nghe,nhất là những đêm mưa nỉ non rơi không nhỏ không to,nghe hoài băng nhão khiến bài hát nghe càng…não nề, mưa nghe như thê thiết hơn.
Sau này trong sáng tác đầu tay”Ướt mi”(cùng ở cung mi thứ)Trịnh Công Sơn đã chịu ảnh hưởng và phát triển nó thêm hơn.Cũng là lối vận dụng điệu thức Dorien với ngũ cung [mi sol la si rê]:sì mi sì rề mi sol la mi…(Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi)với:sì mi mi mi mi,mi sol sol sol sol,mi la la si sol mi sì…(Ngoài hiên mưa rơi rơi…).

Đặng Thế Phong có mặt trên cuộc đời này quá ngắn ngủi.Ông xuất hiện như một chớp sao băng với một sự nghiệp ít ỏi nhưng có giá trị lớn và vững bền.Ở thời kỳ của ông khi hầu hết các tình ca khác còn nói chuyện mây gió hoa lá thì nhạc của ông đã đi vào thân phận và tâm hồn một cách sâu sắc với bút pháp lãng mạn và u sầu.Tưởng như buồn chôn hết cả nỗi buồn trong đó.Nối tiếp tính lãng mạn tình ca này sẽ là một đệ-nhất-người-tình của ca khúc ở Hải Phòng:Văn Cao.

T.M.P

(Kỳ sau:Bài 5-Những gương mặt Tân Nhạc:Văn Cao-Người tình Trương Chi)

NHỮNG GƯƠNG MẶT TÂN NHẠC: VĂN CAO-NGƯỜI TÌNH TRƯƠNG CHI



Văn Cao-chào đời ngày 15/11/1923 bên bờ sông Cấm(Hải Phòng)là  một nhạc sĩ đa tài và đa dạng.Ông là người phát triển tính lãng mạn tình ca của Đặng Thế Phong lên đỉnh cao trong nhạc Việt với hai siêu phẩm:Thiên thai và Trương Chi.Ông cũng là người nối tiếp dòng hùng ca mà kiệt tác là bài Quốc ca Việt Nam(Tiến quân ca).Cha đẻ của thể loại trường ca Việt cũng chính là Văn Cao với tuyệt phẩm Trường ca Sông Lô.Nhạc của Ông có ca từ đẹp như thơ và giàu hình ảnh của một bức tranh sinh động.Không có gì ngạc nhiên bởi chính ông cũng là một thi sĩ(Tập thơ Lá)và họa sĩ đầy tài hoa.Đa tài thường đa truân.Cuộc đời ông lận đận và có gần 30 năm không màng đến sáng tác vì u uất một điều gì đó tựa hồ như nỗi buồn của chàng Trương.




Tình Ca

Đầu thập niên 40 là thời của nhạc tình lãng mạn thay nhau ra đời,Văn Cao cũng nằm trong dòng chảy đó.Ông bắt đầu viết những bài nhạc tình đầu tay mang nỗi buồn của thời đại Thu cô liêu,Buồn tàn thu nhưng với một phong thái rất Á đông chứ ít chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp trong văn học như một số nhạc sĩ khác.Trái lại,ông chịu ảnh hưởng của thơ Đường.Chính ông từng viết ở bản in bài Thiên Thai năm1944:Ảnh hưởng sông nước khúc Thiên thai cổ trong khung cảnh huyền diệu của Đường Thi với hai truyện Thiên thai và Đào Nguyên.Người sông Ngự đã lạc mất cảm xúc rồi!(Văn Cao tự nhận mình là người…Huế qua biệt danh người sông Ngự).

NHỮNG GƯƠNG MẶT TÂN NHẠC: LÊ THƯƠNG - Người Kể Chuyện Bằng Nhạc



Lê Thương là một trong những cánh chim đầu đàn của TN(Cùng thế hệ với Dương Thiệu Tước,Văn Chung,Lê Yên,Thẩm Oánh,Nguyễn Xuân Khoát,Dzoãn Mẫn…)từng là một thầy dòng nhưng rồi lại cỡi áo thầy tu -chắc vì tâm hồn quá lãng mạn và đa tình của mình.Tuy vậy,chất”thầy”vẫn còn thấm đượm trong ông nên dù có viết nhạc”hoa bướm”cỡ nào thì ông vẫn được tiếng là nghệ sĩ có cuộc sống rất chừng mực,đơn giản và rất trí thức(sau khi cỡi áo tu ông làm nghề giáo).Lê Thương sừng sững như ngọn núi cao trong TN với bộ ba Hòn Vọng Phu(1,2 và 3)với câu chuyện thiếu phụ Nam Xương chờ chồng hoá đá.Bắt đầu bằng bài tình ca nhỏ Nàng Hà Tiên từ thập niên 40 đến Hòn Vong Phu đồ sộ,nhạc của ông tựa hồ là những câu chuyện kể…

Kể chuyện tình sử

Hồi đó Lê Thương ôm một mối tình câm,lãng mạn như bài thơ”Lòng ta ôm một mối tình/Tình trong giây phút thành tình thiên thu…”Nghe nói người trong mộng của ông sau này trở thành phu nhân một nhạc sĩ cũng rất nổi tiếng khác:Nguyễn Thiện Tơ người lưu danh hậu thế với ”Giáo đường im bóng”(bài hát này được tác giả viết lúc mới 17 tuổi-hình như đó là một kỷ lục của Tân nhạc thì phải).Tình cảm này đã giúp Lê Thương viết ra bài “Nàng Hà Tiên”.Ông mượn chuyện khác để nói chuyện lòng mình.Đây là bài hát nhiều người cho là dự báo cho Hòn Vọng Phu kiệt tác của ông sau này.Cũng mô-típ chuyện tiên và hư hư thực thực như Thiên thai(Văn Cao) nhưng ở Lê Thương nghiêng về trần thuật(kể)hơn là tính tự tình.Ông kể rằng người yêu người rồi đẻ ra tiên,tiên cũng vì yêu nên biến thành một bờ bến thơ mộng và hùng vĩ là địa danh Hà Tiên,một thắng cảnh du lịch mà ai cũng biết đến:”Từ mộng thuyền quyên/Tới giấc mơ huyền/…/Từ rày Hà Tiên/Thành một bờ bến…”(Lời bài Nàng Hà Tiên).Lúc này Lê Thương cho thấy sự nổi bật của ông là ở kỹ thuật cao tay dám viết những câu nhạc rất dài nhưng khúc chiết,linh hoạt và bay bướm(Nếu không có tài và cao tay ấn sẽ làm câu nhạc dài dòng rối rắm,khó cảm)cũng như là trí tưởng tượng phong phú,bay bổng.


Thập niên 40 ngoài những bản nhạc Tây rất thịnh hành trong thanh niên trí thức mới(thời đó bị lên án là những kẻ khai tử nho học)thì một số bài hát Nhật cũng được phổ biến rất rộng rãi qua những ca khúc Nhật chuyển lời Việt như:”Hà nhật quân tái lai”của Văn Chung…(điều này cho thấy ý kiến nhạc Nhật chưa bao giờ ảnh hưởng đến Việt Nam là thiếu cơ sở,ngược lại nó đã có từ lâu cùng với lúc nhạc Tây du nhập vào nước ta-tuy có ít hơn nhiều).Có lẽ vì yêu mến những giai điệu đẹp và man mác của các ca khúc KoHan No Yado,MoriNo,Shina No Yoru…Lê Thương đã mượn âm giai Nhật để viết nên bài “Thu trên đảo Kinh Châu”rất được mến mộ thời bấy giờ.Tuy nhiên đây là một sáng tác có chủ tâm của Lê Thương khi lấy bối cảnh và nội dung Nhật để đưa vào bài hát này rồi dùng âm điệu xứ sở mặt trời để thể hiện nó.

Giai đoạn này Lê Thương cũng được biết đến với các bài hát “Bản đàn Xuân”,”Một ngày xanh” là những tình ca buồn êm đềm nhưng tên tuổi ông chỉ thật sự chói loà khi soạn ra bộ ba bài hát dài hơi và giá trị cao là Hòn Vọng Phu.Đây là sáng tác đánh dấu sự  phát triển đến mức cao nhất  những thủ pháp viết ca khúc theo dạng liên khúc và phát triển ngũ cung cũng như bút pháp lời ca của “thương hiệu”Lê Thương:sử dụng ca từ như một câu chuyện kể.Kể những câu chuyện tình không phải bình thường mà mang dáng dấp sử thi,tình sử.

Tính châm biếm và tâm hồn trẻ thơ

Là một nhạc sĩ-nhà giáo nên Lê Thương rất quan tâm đến thời thế,xã hội cũng như là thiếu nhi,-một đối tượng chính của giáo dục.Vì thế trong sự nghiệp âm nhạc của ông còn hai mảng đề tài khác rất thành công là nhạc châm biếm chính trị-xã hội và nhạc thiếu nhi.

Như chuyên đề này đã đề cập,cuối thập niên 40 trong làng TN xuất hiện một xu hướng viết nhạc mới khá độc đáo,không tình ca mà cũng không hùng ca đó là nhạc hài hước của Trần Văn Trạch.(Nghệ sĩ này là ngưởi đầu tiên của Việt Nam để tóc dài như phong trào hippy sẽ xuất hiện và tạo thành cơn sốt vào tận thập niên…60 sau này).Ông lập nhóm ATV,viết mới dân ca thành những bài ca hài hước phê phán,đả kích rất duyên dáng hóm hỉnh những vấn đề thời sự về chính trị-xã hội.Trong danh mục của Trần Văn Trạch luôn có mặt các bài hát theo phong cách này của Lê Thương.Ông được xem như người tiên phong trong các sáng tác này với các bài:Hoà bình 48(Phê phán sự mỵ dân đội lốt hoà bình),Làng báo Sài Thành(Đả kích báo giới bồi bút,bất tài và ham tiền),Đốt hay không đốt(Châm biếm máu Hoạn thư)…Những bài hát này sử dụng ngôn ngữ rất bình dân và cách dùng phong ngữ rất địa phương tính.(Tuy vậy nó vẫn đảm bảo được tính nghệ thuật chứ không phải như những ca từ bây giờ của một số tác giả trẻ”học đòi”bình dân mà rất rẻ tiền,phản nghệ thuật)

Nhạc thiếu nhi của Lê Thương thì càng tuyệt hơn nữa.Nói không ngoa ông cùng với Nguyễn Xuân Khoát là một trong những bậc sư tổ của nhạc thiếu nhi Việt Nam(sau này sẽ ra đời nhiều cây bút như thế bay lên từ nền tảng này:Phong Nhã,Hoàng Long-Hoàng Lân,Phạm Tuyên,Trương Quang Lục…)Cũng như tôi,mọi người ai ai mà không nhớ về những đêm Trung Thu tuổi thơ của mình với lung linh bài hát Thằng Cuội.Cũng là một kiểu kể chuyện duyên dáng gần với Đồng dao và giai điệu đẹp rất Việt đã làm cho tuổi thơ chúng ta bao thi vị về Cuội,Hằng Nga,cây đa.Rồi lớn lên một chút chúng ta lại hát vang:”Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau…”(Bài Học sinh hành khúc).

Một tâm hồn mẫn cảm,hiệp sĩ và trẻ thơ đã hoà tan vào tài hoa Lê Thương giúp tạo nên các tác phẩm trứ danh nhiều tình tự quê hương mà vẫn mở lòng ra với bốn phương,chắc chắn là điều để những kẻ hậu thế chúng ta khi tiếp cận và thâu thái âm nhạc đương đại thế giới phải ngẫm nghĩ giữa biên giới “học đòi và học hỏi-bắt chước và sáng tạo”.

T.M.P

(Kỳ sau:Bài 7-Hùng ca và Cách mạng ca)


TỪ “NGƯỜI TÌNH” BƯỚC SANG “NGƯỜI HÙNG”

Bài 7:

Như ở bài 1 đã nói,Tân Nhạc  qua năm 1944,bên cạnh những tình khúc lãng mạn đã xuất hiện thêm những bài hùng ca,đáp ứng và sản sinh ra cho và bởi hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc đó:Cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.Việc rẽ nhánh này chỉ là sự phân chia về dòng chảy tác phẩm chứ không phải là mặt bằng tác giả.Bởi vì hầu hết các nhạc sĩ TN sau khi là “người tình lãng mạn” họ đã lao vào cuộc trường chinh của dân tộc với vai trò là “người hùng của ca khúc” để làm chiến sĩ bằng những giai điệu hào hùng và sắc xảo của mình.Dòng nhạc này bắc cầu từ năm 45 qua năm 54 rồi tiếp tục phát triển ở miền Bắc XHCN bằng những bài ca cách mạng cho đến năm 75.

Trước khi bùng nổ cuộc kháng chiến Nam bộ,Lưu Hữu Phước(1921-Cần Thơ) nổi lên như một nhạc sĩ tiền phong của những bài hùng ca-tiền thân của những cách mạng ca sau này-với tác phẩm đầu tay”Giang sơn gấm vóc”(1936)nhưng đó là nhạc soạn cho đàn nguyệt.Chỉ khi ca khúc”Bạch Đằng Giang”(lời Mai Văn Bộ-Nguyễn Thành Nguyên)ra đời thì Lưu Hữu Phước mới được xem như người cầm chịch cho dòng nhạc hùng ca.Giữa khung cảnh mùa thu heo may của tình ca bỗng xuất hiện những ánh nắng rực rỡ và khoẻ khoắn của”Xếp bút nghiên”,”Lên đàng”(Lời Huỳnh Văn Tiểng)nhưng đặc biệt là”Tiếng gọi thanh niên”(1941 còn gọi là Tiếng gọi sinh viên) là hồi kèn thúc giục lên đường hoành tráng nhất đã trở thành bài hát “nhị trùng”:Nó trở thành bài quốc ca của chế độ Cộng Hoà Sài gòn sau khi bị đổi lời đi!Ngoài đề tài Lịch sử và Thanh niên,Lưu Hưu Phước còn viết những bài hát thiếu nhi rất nổi tiếng như:”Reo vang bình minh”,”Thiếu nhi thế giới liên hoan”…Ông còn là tác giả bài”Hồn tử sĩ nổi tiếng” đã trở thành bài tưởng niệm ca của Việt Nam.

Nguyễn Xuân Khoát là nhạc sĩ lớn tuổi nhất của thế hệ thứ nhất(1910-Hà Nội),ông là cha đẻ của nhạc hài hước(dùng nụ cười để chuyển tải những thông điệp của triết lý cuộc sống) mà sau này ở miền Nam Trần Văn Trạch nối tiếp rất thành công.Giữa những rừng giai điệu mượt mà lúc đó,nhạc của ông tách hẳn ra với âm điệu thô nhám nhưng vui tươi,ghồ ghề nhưng tươi tắn.Có thể kể:”Con cò mà đi ăn đêm”,”Thằng Bờm”.”Con voi”…trong đó”Con Voi”là bài hát cho thiếu nhi đầu tiên của Việt Nam.Sau này ông chỉ chuyên tâm viết khí nhạc nhiều hơn.

Sau những “Trên Sông Hương”,”Đêm đông”(Đến bây giờ vẫn được hát nhiều) rất lãng mạn và u buồn Nguyễn Văn Thương(1919-Huế)đóng góp cho nhạc cách mạng một bài hát nổi tiếng khác:”Bình Trị Thiên khói lửa”.Nhạc của ông buổi đầu bị đánh giá là ảnh hưởng phương Tây quá nặng nhưng càng về sau ông chú ý khai thác chất liệu dân tôc nhiều hơn,nhất là trong khí nhạc-một phần lớn sự nghiệp ông nằm ở đó.

Lê Yên(1917)là một nhạc sĩ lãng mạn với bài”Bẽ bàng”phổ biến vào buổi bình minh TN(1935)bắt đầu tách khỏi cái gọi là”nhạc ta lời Tây”;sau”Nghệ sĩ hành khúc”(1937)bắt đầu có hơi hướng khoẻ khoắn ông chuyển sang nhạc hùng với bài hát nổi tiếng”Ngựa phi đường xa”(còn có tên Đoàn kỵ binh Việt Nam)và tiếp đó là tầm cao khác;”Bộ đội về làng” đựơc đánh giá là một trong các bài hát phổ thơ tài hoa nhất của TN.

Sau trường ca”Sông Lô” mang nét lãng mạn cách mạng(Văn Cao)thì ”Du kích sông Thao”của Đỗ Nhuận(1922-Hải Hưng)là một ca khúc tiếp nối được tinh thần đó tuy nó có oai nghiêm hơn.Ông là một trong những nhạc sĩ ứng dụng dân ca tài tình nhất vào trong các tác phẩm của mình mà bài”Hành quân xa”là một điển hình.Nhắc đến ông là nhắc đến hai bài hát nổi tiếng cùng thung lũng Điện Biên:”Chiến thắng Điện Biên”,”Trên đồi Him-Lam”.Sau 54 ông lại có:”Việt Nam quê hương tôi” và”Trồng cây lại nhớ đến người”…Ông là Tổng thư ký Hội nhạc sĩ Việt Nam từ năm 1956-1983.

Người cuối cùng của TN lãng mạn là Nguyễn Văn Tý(1925-Nghệ Tĩnh).Ông viết bài”Dư âm”nổi tiếng vào tận năm 1949,sau khi kháng chiến đã diễn ra được 4 năm và các nhạc sĩ TN khác đã chuyển sang viết hùng ca.Nhưng ông là một trong các tác giả có chiều dài thành công lâu nhất với các tác phẩm nổi tiếng viết sau năm 75 như”Dáng đứng Bến Tre”,”Cô đi nuôi dạy trẻ”.Trong kháng Pháp ông có”Vượt trùng Dương”.Trong kháng Mỹ ông có”Mẹ yêu con”,”Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh”…Nhạc của ông sử dụng nhuầ nhuyễn rất nhiều các làn điệu dân ca như:hát ví,hát dặm,hát xoan,hát chèo,hát ghẹo…

Cũng có chiều dài thành công qua nhiều giai đoạn như Nguyễn Văn Tý là Phan Huỳnh Điểu(1924-Đà Nẵng).Nhạc của ông chỉ xuất hiện khi diễn ra cuộc cách mạng mùa thu tháng tám 45.”Đoàn Giải phóng quân”là bài ca kháng chiến rất được yêu thích đã tạo nên tên tuổi của ông.Sau 54 ông toả sáng với hàng loạt bài:Tình trong lá thiếp,Những ánh sao đêm,Bóng cây Kơ-nia(thơ Ngọc Anh)…và sau năm 75 là:Anh ở đầu sông em cuối sông(thơ Hoài Vũ),Sợi nhớ sợi thương(thơ Thuý Bắc),Thuyền và Biển(thơ Xuân Quỳnh)…Nhạc của ông trữ tình và thường gián tiếp nói về tình yêu.

Những nhạc sĩ nêu trên thuộc thế hệ thứ nhất của TN(Trong phạm vi bài này chỉ nêu được một số gương mặt mà thôi)Thế hệ này chủ yếu thành danh trước 45 và sau đó là 9 năm kháng chiến chống Pháp.Thế hệ thứ hai trưởng thành và gây dựng sự nghiệp âm nhạc trong cuộc lên đường chống Mỹ và giải phóng miền Nam:

                                                                  Ns Hoàng Việt

Hoàng Việt nổi tiếng với Tình ca(Có một bản Tình ca khác nhưng là của Phạm Duy)Nhạc rừng,Lá xanh,Lên ngàn.Ông còn mang cái tên khác là Lê Trực trước 54 với bài hát lãng mạn:Tiếng còi trong sương đêm.Đó là Trần Hoàn xuất hiện vào năm 46 với bài”Hồn nước”.Ông được nhắc đến với các ca khúc:Tình ca mùa xuân,Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh.Rồi Hoàng Hiệp(Câu hò bên bờ Hiền Lương,Cô gái vót chông,Trường sơn đông-Trường sơn tây…),Xuân Hồng(Bài ca may áo,Xuân chiến khu,Tiếng chày trên sóc Bom bo,Người mẹ của tôi…).Văn Ký(Bài ca hy vọng…)Nguyễn Đức Toàn(Biết ơn Võ Thị Sáu,Chiều trên bến cảng)Hoàng Vân(Người chiến sĩ ấy,Hát về cây lúa hôm nay…)…

Và còn nhiều nhạc sĩ tên tuổi nữa mà trong phạm vi bài này không thể nói hết.Tất cả họ là những người kế thừa khá xuất sắc nền Tân nhạc Việt Nam và làm tròn vai trò lịch sử của mình trong việc biến bài hát thành một thực tiễn sinh động trong đấu tranh để tạo nên một giai đoạn nhạc Việt khó quên.Đóng góp nổi bật nhất của họ là ý thức khai thác tính dân tộc rất cao và có nhiều bài hát được xem là mẫu mực về chuyển tải dân ca trong kỹ thuật của nhạc học Tây.Do điều kiện của chiến tranh việc tiếp thu các tinh hoa âm nhạc hiện đại trên thế giới của lớp nhạc sĩ này phải chịu nhiều hạn chế ngoài việc học tập và thấm đượm được một số kỹ thuật của hai nền âm nhạc Nga(Liên Xô cũ)và Trung Quốc.

Một giai đoạn âm nhạc khác sẽ được tiếp nối.Nhưng đó là một bài viết khác.

T.M.P

(Kỳ sau:Bài 8- Nhạc Sài gòn Xưa)


NHẠC SÀI GÒN XƯA

                                                                                                                                                                    Sài gòn xưa là Sài gòn trước 75 quay ngược lại năm 54, không phải trong thập niên 30 hay 40. Tân Nhạc manh nha ở Sài gòn nhưng lại hình thành và phát triển mạnh hơn ở phía Bắc. Sau hiệp định Geneve 54, Sài gòn mới có Tân nhạc như là một trung tâm ca nhạc muôn mặt với một đội ngũ nhạc sĩ đa dạng, tạo nên trào lưu âm nhạc mới gọi là : nhạc Sài gòn. Có một sự thú vị của hai dòng di cư Tân nhạc: Sau 54 một số nhạc sĩ Tân nhạc miền Bắc tìm vào Nam thì ngược lại một phần các nhạc sĩ miền Nam lại ngược ra Bắc…

Tôi muốn nhận diện nhạc Sài gòn xưa bằng cách lướt qua một số nhạc sĩ và tác phẩm đáng chú ý của họ trong những dòng nhạc ít nhiều tương đối có giá trị ở một vài đóng góp đáng nhớ,còn những dòng nhạc dạng tâm lý chiến,tình ca lính Cộng hoà, nhạc tình ca  âm hưởng quê hương trên nền tiết điệu Boléro… chưa được nhắc đến ở đây.

                                                       Ns Cung Tiến và một bản thảo

Cung Tiến là một nhạc sĩ khai thác sự lãng mạn của nhạc cổ điển châu Âu nhiều nhất trong các bài hát theo âm hưởng demi-classicque hoặc néo-classique.Năm 54 ông viết Thu vàng với tiết điệu valse rất Danube blue mở đầu cho phong cách này của ông.Sau đó là Hoài cảm rất bàng bạc Schubert.Ông còn những bài nổi tiếng khác như Nguyệt cầm,Đêm Hoa đăng…Người đầu tiên ở Việt Nam mượn những chủ đề nhạc cổ điển(nhưng có ghi rõ xuất xứ nhạc đề-theme đàng hoàng và không lạm dụng khai thác) để trang trí và kết ngọc cảm tác trong các bài hát chính là ông. Một người khác cũng nằm trong xu hướng nhạc trí thức và hoài cổ này(nhưng ít Tây hơn) là Văn Phụng với các tác phẩm Ô mê ly,Bức hoạ đồng quê… đến tận bây giờ vẫn thường được hát qua giọng ca Ánh Tuyết. Vũ ThànhPhạm Đình Chương cũng là những người”gần hội gần thuyền”của hai người trên. Vũ Thành có Gíâc mơ hồi hương,,Nhặt cánh sao rơi,Thuỵ khúc…Phạm Đình Chương gây ấn tượng nối tiếp từ những bài của những năm 50(Tiếng dân chài, Được mùa…) để có thêm những Ly rượu mừng ,Mưa Sài gòn-mưa Hà nội, Nửa hồn thương đau, Người đi qua đời tôi, Mộng dưới hoa…phần lớn là phổ thơ.

Từ Công Phụng cũng man mác phong cách trên nhưng nhẹ hơn. Nếu những người trên là cỗ xe song mã thì Từ Công Phụng đã mang bóng dáng”máy hơi nước”. Nhạc của ông cũng rất gần gũi với màu âm của Đoàn Chuẩn. Đó là sự nối tiếp ở một cung bậc mới. Ông thường được nhắc đến với Trên đỉnh mùa đông .Và những giai điệu-ca tử như:Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em?..(Bây giờ tháng mấy).nổi tiếng qua nhiều thế hệ mà bọn học trò chúng tôi thường say mê ngân nga rồi nghịch ngợm sửa lại: Bây giờ mấy tháng rồi hỡi em?

Ngô Thụy Miên là một salon tình ca khác đượm áo trắng và mực tím. Bây giờ đã xuất hiện phố thị với xe máy chạy bằng động cơ diesel. Nhạc của ông là nhạc mưa, nhạc mây và nhạc lụa. Những bài khó quên: Áo lụa Hà Đông(thơ Nguyên Sa), Mùa thu cho em, Niệm khúc cuối, Paris có gì lạ không em?(Nguyên Sa) Giáng Ngọc…Ông chỉ viết khoảng trên chục bài nhưng bài nào cũng nổi tiếng(Có người lại thích khoe khoang viết hàng trăm bài nhưng số bài để người ta nhớ là con số minium)

Hết mùa áo trắng với tình buồn nhẹ thênh là bước đến những bản tình ca đau đớn và thân phận hơn của Vũ Thành An. Nhạc của ông không còn là sương mây như của Ngô Thụy Miên mà là ảo mờ khói thuốc: Một làn khói trắng ru đời vào quên lãng…Đó là nỗi buồn một thế hệ sống mất niềm tin và tình yêu chỉ còn là một bấu víu vào hư ảnh. Với loạt bài 10 Tình khúc không tên của Vũ Thành An ta có thể đọc thấy thông điệp nghẹn ngào đó.

Khi tâm hồn mềm yếu không còn chỗ nương tựa trong tình yêu nữa thì tình yêu khoả lấp bằng nhục cảm nhiều hơn. Nó được khúc xạ trong âm nhạc của đôi song ca(và cũng là người sáng tác ca khúc) Lê Uyên-Phương. Nhạc của họ như Vũng lầy của chúng ta, Nỗi buồn dâng hiến…chịu ảnh hưởng của phong trào hippy trên thế giới với lãnh tụ tinh thần là chủ nghĩa hiện sinh của Jean Paul Sartre. Tác giả của ”Tồn tại và hư vô” này đã gây ảnh hưởng lên đại bộ phận thanh niên thế giới vào thập niên 60 mà The Beatles cũng chịu tác động với khẩu hiệu ”Make love not war” để phản ứng lại với chiến tranh đang làm cho thanh thiếu niên tuyệt vọng. Ở Việt Nam, Lê-Uyên Phương là người đầu tiên cổ suý nó và mang ái ân vào âm nhạc như một thứ ma tuý để trốn tránh hiện thực. Sau này có Đức Huy, Trịnh Nam Sơn xuất hiện ở tiền bán thập niên 70 cũng mang một phần tinh thần đó vào ca khúc của mình rồi nối dài nó cùng những năm tháng tha hương trong dòng nhạc của người Việt Hải ngoại. Và lúc đó bên nhánh nhạc trẻ, một loại nhạc Pop-Rock hiện đại hơn du nhập theo những đội quân viễn chinh, cũng là con dân của chủ nghĩa không biết đến ngày mai đó.

                                                           Ban nhạc Phượng Hoàng

Nhạc trẻ vào Sài gòn từ những năm đầu thập niên 60 với hàng loạt ban nhạc nhái Mỹ từ phong cách cho đến cái tên. Phải đến khi có ban Phượng Hoàng của Nguyễn Trung CangLê Hựu Hà thì nhạc trẻ Sài gòn mới có gì đó sáng tạo hơn và hoàn toàn bứt ra khỏi những nhạc ngữ tiền chiến còn bàng bạc đó đây.Những Thương nhau ngày mưa ,Mặt trời đen… cũng là một mạch chảy của tinh thần hiện sinh của một lớp trẻ tự cho rằng mình đang lạc loài ngay trong ngôi nhà của mình rồi yêu vội trong tuyệt vọng, rồi tìm quên bằng nhiều ảo giác của xác thịt. Nhạc của Phượng Hoàng được coi là một trong những đại biểu đương đại nhất thời đó.

Nhưng ở Sài gòn lúc này đâu phải chỉ có những dòng nhạc sentimental và Pop-Rock.Một vầng dương khác đã mọc lên bên cạnh“mặt trời đen”: Nhạc của phong trào du ca, phong trào sinh viên đấu tranh và nhạc phản chiến, nối tiếp dòng hùng ca của Tân nhạc buổi đầu và là một bè song thanh với nhạc cách mạng ở miền Bắc. Nó như một ý thức tỉnh táo đối trọng với những cơn say tình yêu hoặc ảo giác trong thú đau thương của một bộ phận lớp trẻ miền Nam.

Nhạc Du Ca ra đời khoảng năm 1966 do Nguyễn Đức QuangĐinh Gia Lập khai sinh và cầm chịch. Phong trào này gây ảnh hưởng rất mạnh với thanh niên, SV-HS lúc bấy giờ qua các hình thức Thanh Niên ca, Thiếu Nhi ca, Sử ca, Cộng Đồng ca…với nội dung tích cực, lành mạnh ngợi ca tình yêu nhân loại và quê hương, nó là một dòng nhạc mang ý thức cảm hoá, khai phá tâm hồn, là một cách phản kháng lại dòng nhạc tình ca ru ngủ, mơn trớn đương thời. Song song với Du Ca còn có nhạc của phong trào Sinh Viên đấu tranh ra đời sau đó vào khoảng những năm đầu thập niên 70 với các gương mặt như Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Sanh, Nguyễn Phú Yên, Trần Xuân Tiến,Trương Quốc Khánh…với nội dung và tình tự được gợi mở từ Du ca.

Một trong những nhạc sĩ đặc biệt và nổi danh nhất của Sài gòn xưa và của cả bây giờ là Trịnh Công Sơn đã đề xướng một dòng nhạc mới: nhạc phản chiến. Xuất hiện như một người viết tình ca xuất sắc và như là một đại biểu của tình ca Sài Gòn xưa với những nét giai điệu độc đáo, tài hoa và ca từ xuất chúng trong vô vàn những tình khúc giản dị mà sang trọng, triết lý mà chân thành, giàu xúc cảm; nhưng rồi cũng từ chữ tình ấy Trịnh Công Sơn đã viết nên những bài hát chống chiến tranh nổi tiếng hầu hết tập trung trong tuyển tập ca khúc Da Vàng của ông. Những bức thông điệp phản chiến chan chứa tình yêu này là một hiện tượng đặc biệt của nhạc Sài Gòn xưa với những bài hát tuyệt tác không cần kể tên mà ai cũng biết.

T.M.P

(Kỳ tới : Bài 9 - Trịnh Công Sơn)


TRỊNH CÔNG SƠN: NGƯỜI HÁT RONG CỦA TÌNH YÊU VÀ HOÀ BÌNH

Bài 9:

Ngày 22/6 tới đây tên tuổi của Trịnh Công Sơn sẽ được vinh danh cùng với những tượng đài âm nhạc thế giới khác(Bob Dylan,Joan Baez,Harry Belafonte,Tam ca Peter-Paul-Mary)bằng giải thưởng âm nhạc hoà bình thế giới(WPMA).Bấy nhiêu cũng đã nói lên tầm vóc lớn lao và đặc biệt của nhạc sĩ họ Trịnh này trong nhạc Việt.Để đạt được điều này ông đã lãng du hơn 40 năm,trải dài qua nhiều giai đoạn của đất nước để làm một người hát rong xuất sắc nhất miệt mài tụng ca Tình yêu và Hoà Bình với những âm hưởng buồn đầy thân phận,ngôn ngữ triết lý mà hồn nhiên,trừu tượng mà xác thực.Và tôi gọi Trịnh Công Sơn là người hát rong là nhắc lại lời nói của anh:Tôi chỉ là tên hát rong đi qua miền đất này…



Khi bắt đầu ngồi viết về Trịnh Công Sơn(TCS),tôi cứ ngỡ mình sẽ khó viết cạn dòng vì có quá nhiều chuyện để viết về anh,vì anh là một trong những cây đại thụ của nhạc Việt mà tôi được duy nhất tiếp xúc thường xuyên khi còn công tác tại báo Sóng Nhạc mà anh là Phó TBT.Nhưng rồi chỉ qua vài mươi chữ tôi thấy mình trở nên…bất lực!Bởi tôi sực nhớ đến đã có hàng trăm bài viết,trang sách nói về anh quá đầy đủ và rất hay của rất nhiều tên tuổi lớn của Văn nghệ Việt Nam và cả những bộ Bách khoa danh tiếng trên thế giới mà tôi và hàng triệu người Việt đã đọc được gần đây.Vậy thì một bài viết nhỏ nhoi,bỉnh thường của tôi có ý nghĩa gì?có thừa thãi và sáo mòn,ăn theo lắm không?Nhưng trong chuyên đề về nhạc Việt này làm sao không thể không viết về anh,một diện mạo lớn và đặc biệt của âm nhạc Việt?Tôi chỉ còn một cách là trích dẫn một số cảm tưởng và nhận định về anh của những ngòi bút tên tuổi đó trong bài viết này.Mượn nó để thay cho những  suy nghĩ đơn sơ của mình.

Người ta nói đỉnh cao của sự tinh túy đấy chính là sự đơn giản.Văn Cao đã thấy điều đó trong các tác phẩm của họ Trịnh.Một sự đơn giản đầy cảm xúc mà nhiều người không theo nỗi trong khi có thể bắt chước những cái phức tạp mà vô cảm.

Trong âm nhạc của Sơn ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển theo cấu trúc bác học phương Tây.Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra.Nói như ns Nguyễn Xuân Khoát-một người bạn già của tôi”Trịnh Công Sơn viết dễ như lấy đồ trong túi ra”.Cái quyến rũ của nhạc TCS ở chỗ không định ra trường phái nào,một triết học nào,mà thấm đẫm vào lòng người như suối tưới.Với những lời và ý đẹp độc đáo đến bất ngờ hôn phối cùng một kết cấu đặc biệt như một hình thức của dân ca không hề thay đỗi.Và nếu tôi không lầm thì dấu ấn của Sơn đã ít nhiều in trên các tác phẩm của một số nhạc sĩ thời kỳ sau 75.

Sự trườu tượng và có vẻ như duy mỹ của anh không phải là sự làm dáng với ngôn từ và âm nhạc hay son phấn giả tạo.Bởi thế tình yêu,hoà bình trong tác phẩm anh thật gần gũi và tự nhiên đến xác thực dù nó có hiện lên một cách trườu tượng và đôi khi bóng bẩy.Hãy nghe Phạm Duy nói.

Nhạc thần thoại quê hương,nhạc tình yêu và thân phận con người của TCS có một tư tưởng chỉ đạo khá rõ,dù toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức tranh trườu tượng hơn tả thực.Cả nhạc lẫn lời,cả xác chữ lẫn hồn thơ nghe bảng lãng mơ hồ khó phân định cho đúng nghĩa,nhưng nếu nghe kỹ cũng tìm ra ý chính:Sơn muốn nói lên nỗi đau con người trong cuộc sống hiện đại,có tình yêu,có chiến tranh,có hận thù,có cái chết dễ dàng như chết trong mơ.Anh tụng ca tình yêu,anh chống bạo lực và chống chiến tranh.

Bởi quá yêu cuộc đời dù biết là“ở trọ”nên ám ảnh về chiến tranh,chết chóc đã đưa nhạc Trịnh vào hàng ngũ những nghệ sĩ phản chiến tài hoa và đáng quý nhất của những mái đầu xanh.Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận định như thế.

Trong bối cảnh của một cuộc chiến tranh quá dữ dằn và kéo dài,nỗi chết là một ám ảnh không rời trong tâm cảm quê hương của TCS,như trong Tình ca của người mất trí chẳng hạn:”Chết tình cờ,chết không hẹn hò,nằm chết như mơ…”Chính điều này đã khiến Sơn trở thành thần tượng nghệ thuật của tuổi trẻ một thời lửa đạn,và tên tuổi TCS được biết đến giữa những nghệ sĩ phản chiến của thế giới,đối diện với chính sách Mỹ ở Việt Nam.

Bửu Ý gọi nhạc tình buồn của TCS không làm ta uỷ mị.Tôi thấy nó là những giọt nước mắt để hồi sinh.Sự tưởng tượng khác thường của TCS đưa anh đi xa hơn thời đại,làm cho anh mang dáng vẻ tiên tri của một người viết nhật ký về tình yêu,quê hương và nỗi đau nhân thế bằng những bài ca không sáo mòn và không triết lý vụn.

Từ lâu lắm TCS được giới ái mộ trao tặng danh hiệu là kẻ du ca về tình yêu,quê hương vả thân phận…Nhạc của TCS không tuyền là nhạc,bài hát không chỉ là bài hát.Mỗi bài là một truyện ngắn,mỗi ca khúc là một chương khúc của truyện dài không có kết thúc,vẫn mở ra như một vết thương,một vết thương người,môt vết thương thời đại,vết thương thiết thân,phải cưu mang và lưu truyền…TCS chắp cánh cho tưởng tượng,và tưởng tượng len lõi vào mọi hóc hẻm của đời sống,khiến cho anh sờ mó đến sự vật nào là sự vật ấy dường như bớt thật và trở nên lung linh bằng một quầng mộng ảo.Cho nên anh đi trước người khác một bước:ngạc nhiên trước người khác,mừng reo hay tư lự cũng trước người khác…Tình yêu với TCS là diễm tình.Trước hết là phải đẹp,đẹp trong dang dỡ và tan vỡ.

Theo Thái Bá Vân,TCS viết đủ đề tài,đủ thân phận nhưng tất cả chỉ gói gọn trong hai chữ tình yêu.Tôi hiểu đó là một tình yêu thật,tự có,sinh ra từ những nỗi đau cao cả, chứ không phải một thứ tình yêu giả lập của hạng người thích tuyên ngôn yêu thương chỉ vì bệnh vĩ cuồng thích người khác (và tự mình) đề cao mình.

Quê hương với chữ Mẹ, chữ Em,chữ Bạn bè viết hoa là cái nền màu mỡ, bao la mà trên đó ươm nở những giai điệu nồng nàn,những lời ca bất ngờ,thơm thảo của TCS.Anh nhìn quê hương với đôi mắt nợ nần,và nghe quê hương trong từng tiếng tri âm.Cái mà ngày nào anh gọi tên là Chiếc lá thu phai,là Cát bụi,là Nắng thuỷ tinh, là Biển nhớ…và bây giờ anh gọi nó là Vẫn có em bên đời,là Huyền thoại Mẹ,là Bốn mùa thay lá,là Tình khúc Ơbai…Thẩy là vết sẹo âu yếm,giông bão trong lòng Việt Nam.Mỗi cử chỉ của TCS là một lễ nghi.

Còn tiếng vang của anh ở ngoại quốc?

Nghe phân tích nội dung nhiều bài hát,nghe chính cô gái Nhật tại Đại học Juissieu trong buổi bảo vệ luận án cao học về đề tài TCS vừa minh hoạ vừa ca vừa đệm đàn lục huyền cầm:tên TCS vang trong Đại học Paris ngang tầm với những nhạc sĩ danh tiếng Charles Brassens trong Đại học Sorbonne.(GSNS Trần Văn Khê)

Nhiều thi nhân Việt Nam ngày nay đã tìm hơi thở hùng ca của tổ tiên ngày trước để hát nỗi đau của mình.TCS nổi bật giữa những tài năng trẻ đó(Thời điểm của nhận định này là vào năm 1973-NV ghi chú).Bài hát của anh ngập tràn thành phố và thôn quê.TCS cất cao tiếng hát thi nhân mà đạn bom Không thể dập tắt được.(Bách khoa Le million)[Ngoài ra tên anh còn xuất hiện trong bộ Từ điển Bách khoa Pháp-Encycloclopédie de tous pays du monde]
Vâng,không chỉ đạn bom mà cả thời gian cũng không thể xoá nhòa tượng đài TCS trong nhạc Việt.Tôi xin dừng dòng trích dẫn ở đây và xin lạm bàn một vài điều nhỏ.

TCS thật sự chỉ là một người viết ca khúc, là một melodist tạo ra một sườn giai điệu với ca từ và thế là hết(Văn Cao cũng thế,Phạm Duy cũng gần như vậy).Vậy có thể nào gọi đó là một bài hát thô khi chưa có bóng dáng của hoà âm và phối khí?(Như một lập luận nông cạn và phiến diện của ai đó)Những bài ca của TCS hầu hết chỉ thật sự nghe hay nhất và đúng tinh thần TCS nhất khi chỉ được đệm với cây đàn guitar thùng cùng vài ba hợp âm đơn giản,nó không cần “kiến trúc sư” của hoà âm-phối khí kiểu thợ thuyền và khoe khoang hoặc cóp nhặt kỹ thuật để “khí nhạc hoá ca khúc”một cách máy móc(có khi nó còn bị…phá hoại bởi một kiểu cách hoà âm như thế).Anh là một nhạc sĩ vĩ đại của Việt Nam và có vị thế đáng nể trọng trong dòng nhạc Pop của thế giới chỉ nhờ vào việc viết những giai điệu và ca từ đơn giản,tài hoa và đầy xúc cảm của mình,trong khi vô vàn nhà“kiến trúc sư âm nhạc”chỉ là ngọn cỏ dưới những giai điệu của TCS.

TCS hoàn toàn xứng đáng tạo ra một dòng chảy”Sơn Pop”nhưng anh không bao giờ thiếu khiêm tốn tự nhận như thế.Anh hiểu sự vinh danh đó hãy để cho quần chúng,lịch sử và nhân loại trao tặng.

T.M.P

(Kỳ sau:Bài 10-Nhạc Việt cuối thế kỷ 20)

Bài liên quan:



Giọng ca, kỹ xảo mới là một nửa thành công
 Trần Minh Phi thực hiện, Source: Thế Giới Mới


Ðã có nhiều ca sĩ thể hiện các bài hát trong suốt 40 năm sáng tác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như Khánh Ly, Lệ Thu, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Thanh Lam... và để lại những ấn tượng đẹp cho người nghe. Từ góc độ tác giả, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho rằng giọng ca, kỹ xảo mới chỉ quyết định một nửa thành công, phần còn lại là sự cảm nhận, tri thức và sự rung cảm của ca sĩ.

Kể từ tác phẩm đầu tay Ướt mi, đến nay Trịnh Công Sơn đã có hơn 40 năm rong chơi, lãng du và triết luận cùng âm nhạc và trở thành một trong những nhạc sĩ lớn của âm nhạc hiện đại Việt Nam. Nhân dịp này, chúng tôi đã cùng trò chuyện với anh về nghệ thuật ca hát và nhất là về những giọng ca tiêu biểu từng "đi qua" tác phẩm của Trịnh Công Sơn

Trần Minh Phi (TMP): Cho dù sau này nhiều ca sĩ đã cố gắng thể hiện khá tốt những phong cách khác nhau về các nhạc phẩm của anh nhưng người nghe đều có chung một nhận xét, Khánh Ly mới đúng là một cặp "đối ngẫu" lý tưởng với âm điệu của anh. Là tác giả, anh nghĩ sao? 




Trịnh Công Sơn (TCS): Ðúng là chỉ có Khánh Ly mới thể hiện đúng tâm trạng bài hát của tôi nhất, nhưng không phải tất cả những bài nào của tôi Khánh Ly cũng đều hát hay nhất. Tôi muốn nhắc đến Lệ Thu, người hát hay nhất Hạ trắng và Xin mặt trời ngủ yên, Bạch Yến thì hát hay hơn hẳn Khánh Ly bài Lời buồn Thánh. Có một nghịch lý tôi muốn đưa ra đây để thấy sự cảm nhận rất vô chừng ở mỗi người. Chẳng hạn, có một cô sinh viên Hà Nội cho biết cô chỉ thích nghe nhạc tôi do Khánh Ly hát nhưng cũng có một phụ nữ lớn tuổi, hiện sống ở nước ngoài, từng mê Khánh Ly hát nhạc tôi, khi có dịp về nước và nghe các ca sĩ sau này hát nhạc tôi thì tỏ ra rất thích thú và cho rằng họ có một cách hát nhạc Trịnh Công Sơn mới, hiện đại và rất hay.

Trần Minh Phi (TMP): Ba bốn năm trước đây, anh đã có ý định "độc quyền" Hồng Nhung cho các bài hát của anh và nhiều người còn cho rằng anh muốn tạo ra một Trịnh Công Sơn - Hồng Nhung để làm quên đi một Trịnh Công Sơn - Khánh Ly.

TCS: - Tôi đã viết riêng cho Hồng Nhung một số bài. Nhưng Hồng Nhung hát cho rất nhiều tác giả.

TMP: Trong số những ca sĩ sau này hát nhạc anh như Cẩm Vân, Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh, Hồng Ngọc... anh thấy ai hát hay nhất nhạc của anh?

TCS: - Mỗi người hát hay một số bài. Có bài Linh hát hay. Có bài Lam hát đạt. Có bài thì Cẩm Vân xuất sắc. Có bài tôi chỉ thích nghe Nhung hát.

TMP: Còn hiện nay, trong các ca sĩ Việt Nam, anh đánh giá ai cao nhất?

TCS: - Tôi thấy chỉ có Mỹ Linh là tạo được ấn tượng tốt nhất cho tôi trong việc sáng tạo ra những phong cách khác nhau cho mỗi bài. Ví dụ như bài Thì thầm mùa xuân. Với bài này, Mỹ Linh đã tạo ra một cách hát độc đáo mà sau này nhiều ca sĩ hát theo y như vậy. Nếu có ai cố hát khác đi thì thấy không hay, không thích nữa.

TMP: Hiện tại ông nghĩ gì trước hiện tượng có khá nhiều ca sĩ đến tập bài mới ngay tại phòng thu rồi một, hai tiếng sau... ghi âm luôn mà không quan tâm tới việc "nhập" và hiểu tình cảm, nội dung của bài hát.

TCS: - Tôi đưa ra đây một tấm gương lao động nghệ thuật của Khánh Ly để thấy rằng trước khi muốn hát một bài thành công thì người ca sĩ phải trải qua một quá trình hóa thân vào tác phẩm đó như thế nào.
Nhớ dạo tôi mới viết bài Một cõi đi về mấy tháng trước khi 30-4-1975. Sau này, có dịp đi Mỹ, tôi gặp Khánh Ly và đưa cho cô bài hát này. Tôi nhớ Khánh Ly cầm và lẩm nhẩm bài hát này từ 7 giờ tối hôm trước đến... 7 giờ sáng hôm sau. Cô đã thức trọn đêm, "vật lộn" với bài hát nhờ sự giúp sức của thuốc lá, cà-phê đen. Vậy mà cô vẫn cho rằng vẫn chưa "thấm" bài mấy. Người ca sĩ phải làm việc nghiêm túc và có trách nhiệm như vậy mới tạo ra những nét sáng tạo riêng trong từng bài hát đồng thời thể hiện chính xác tâm trạng bài hát của nhạc sĩ.

TMP: Ðêm sinh nhật của anh ngày 28-2 vừa rồi anh đã hát tuyệt hay bài Tiến thoái lưỡng nan chỉ trên những hợp âm rải nhẹ của cây organ. Khó có ca sĩ nào thể hiện bài này hay hơn như anh đã hát.

TCS: - Trong các cuộc thi sắc đẹp, sắc đẹp chỉ chiếm khoảng ba hoặc bốn mươi phần trăm, phần còn lại thuộc ứng xử tức là thuộc phạm trù trí tuệ và tâm hồn. Ca hát cũng vậy. Giọng ca, kỹ xảo chỉ mới là phân nửa, phân nửa là do sự cảm nhận, tri thức và rung cảm của người hát quyết định.

TMP: Câu hỏi cuối, hơi xa đề một chút: hiện nay anh có ấp ủ sáng tác một bài hát nào không và nhắm đến ca sĩ nào?

TCS: - Theo lời đề nghị của một ca sĩ nổi tiếng người Nhật, Mozu, tôi đang chuẩn bị bắt tay viết chung với anh một bài hát và sẽ do nữ ca sĩ - cũng người Nhật - Mayami hát. Nó sẽ được trình diễn trong Hội diễn âm nhạc tại Osaka vào tháng 7-1999 sau đó sẽ đến lượt Hà Nội, TP Hồ Chí Minh.

TMP: Xin cảm ơn anh.

 




NHẠC VIỆT CUỐI THẾ KỶ 20

Bài 10:

Sau 75,đất nước thống nhất,nhạc Việt lại hợp lưu.Tuy nhiên vẫn có một nhánh nhỏ và không phải là làn sóng nhạc tiêu biểu,tuôn chảy theo một đợt di cư mới của một bộ phận người Việt ra nước ngoài-chủ yếu là Hoa Kỳ-và vẫn được quen gọi là nhạc Hải ngoại.Trong nước nhạc Việt tíêp tục phát triển với một nội dung và diện mạo khác:Từ đấu tranh chuyển sang xây dựng và ca ngợi cuộc sống mới.Cho đến năm 95,nhạc tình,nhạc thương mại tái xuất hiện trên cái nền của chính sách mở cửa kinh tế của  chính phủ và xảy ra một cuộc đổi ngôi thú vị với những thành công lẫn vấn nạn của nó.Đó là khi nhạc Việt bước qua thiên niên kỷ mới…

Nhạc Việt hậu chiến-Nhựa sống mới,ít mật ngọt Tình ca

Từ hùng ca rồi cách mạng ca nối dài hai cuộc kháng chiến Pháp-Mỹ,đến giai đoạn hậu chiến và hoà bình chúng ta lại có một dòng ca nhạc tiếp nối hai dòng nhạc trên mà ta tạm gọi là xây dựng ca.Đó là một dòng nhạc khoẻ khoắn,yêu đời và hô to những khẩu hiệu xây dựng cuộc sống mới lẫn những lý tưởng mới.Cái Tôi với những dư âm chiến tranh cùng những bề bộn của một ngôi nhà vĩ đại đang xây tạm được quên đi để nói nhiều hơn đến cái Chúng Ta.Những nhạc sĩ trưởng thảnh trong chiến tranh nay vẫn tiếp tục những sáng tác mới:Phan Huỳnh Điểu,Nguyễn Văn Tý,Xuân Hồng,Hoàng Hiệp,Lư Nhất Vũ,Phạm Minh Tuấn,Phạm Tuyên,Hồng Đăng,Phan Nhân,Phó Đức Phương,Trần Kiết Tường… nối dài chất hào khí năm xưa và tình yêu trong đạn lửa được thay bằng tình yêu trên công-nông trường…Cả Trịnh Công Sơn cũng hoà nhịp rất nhanh trong dòng nhạc này với những bài hát mới mẻ khác hẳn những bài trước đây nhưng vẫn rất Trịnh:Em ở nông trường,em ra biên giới,Về giữa Trị An…

Nhạc của phong trào Thanh niên xung phong là một nhánh lá hồn nhiên rất đáng chú ý trong giai đoạn cuối thập niên 70 và trong thập niên 80,đó như là một sự nối dài của Du ca nhưng với một nội dung khác:Tình nguyện đi xây dựng tổ quốc.Các tác giả nổi bật:Nguyễn Đức Trung,Lã Văn Cường,Lê Văn Lộc…Họ là thế hệ nhạc sĩ sau năm 75.Cùng một thế hệ này là các nhạc sĩ khác tập hợp trong Câu lạc bộ sáng tác Thành đoàn TpHCM được thành lập năm 1978.Nơi đây,buổi đầu bên cạnh các nhạc sĩ của phong trào đấu tranh sinh viên,phong trào Hát cho đồng bào tôi nghe năm xưa như Tôn Thất Lập,Trần Long Ẩn,Nguyễn Văn Sanh…là các gương mặt em út:Từ Huy,Nguyễn Ngọc Thiện,Nguyễn Văn Hiên…Chính họ sẽ là những nhân vật chính vào những thập niên 80 và kéo dài sang đầu thập niên 90 cùng với một số nhạc sĩ mới phía Bắc như Trần Tiến…đã đóng góp vào nền nhạc Việt một loại nhạc trẻ mới đầy nhựa sống,khi ấy tương đối là hiện đại nhất(So với những sáng tác khác chỉ còn biết khai thác chất liệu dân ca và những nhạc tính của Tân nhạc tiền chiến).Nhạc tình lúc này được viết rất hạn chế(Vì không được khuyến khích và cũng không có nơi để phổ biến).Tuy vậy một số bài tình ca nhẹ nhàng theo kiểu”Đoàn Chuẩn hiện đại”của Thanh Tùng được tung ra và rất được quần chúng hâm mộ,hoặc là nhạc về Hà nội và tự sự của Phú Quang,nhạc tình yêu Tây nguyên của Nguyễn Cường...

Nhạc trẻ của Sài gòn xưa cũng sống lại sau vài ba năm im tiếng nhưng dưới một tên gọi khác:Ca khúc chính trị,chủ yếu được nuôi dưỡng bởi các công ty,xí nghiệp của nhà nước như Sinco,Đại dương,Hy vọng…Chơi lại những kỹ thuật của các ban nhạc trẻ cũ nhưng với một nội dung cổ động và tuyên truyền cho những giá trị lao động và tinh thần cống hiến của con người mới(Do lúc này nước ta đang đóng cửa nên việc du nhập những giá trị tiên tiến mới của nhạc Pop-Rock bị đình trệ).Bước sang giữa thập niên 80 phong trào ca khúc chính trị mới trở lại với tên gọi là nhạc trẻ bằng những cuộc liên hoan Pop-Rock được lần lượt tổ chức,những cái tên tạo được ấn tượng:Trắng đen,Buổi Sáng,Da Vàng,Alpha,Ba con mèo…Nhưng nó cũng chỉ hưng thịnh không bao lâu.Giữa thập niên 90 nó bắt đầu bước qua bên kia triền dốc của cuộc chơi.

Tất cả bước tranh toàn cảnh trên hầu như chỉ diễn ra nhiều năng lượng nhất ở Sài gòn-một trung tâm ca nhạc mới của cả nước bắt đầu thành hình và định vị vững chắc khi bước vào thời đại của âm nhạc tiêu thụ.

Nhạc Hải ngoại-Hồi âm,dư ảnh và tan loãng

Dù trên mặt địa lý,âm nhạc Hải ngoại diễn ra ngoài biên giới Việt Nam nhưng nó vẫn được làm và phục vụ do-và cho-người Việt nên ta vẫn coi nó như một dòng nhạc Việt-một dòng nhạc Việt tích cực hay tiêu cực gì cũng thế khi được nhìn ở góc độ khách quan của lịch sử.

                  Tuấn Ngọc- Một trong những ca sĩ Hải ngoại được yêu thích nhờ giọng ca đẹp 
                                                         và gây ảnh hưởng nhiều nhất.

Nhạc Hải ngoại là hồi âm,là dư ảnh của nhạc Sài gòn tạm chiếm(Xem bài Tân nhạc ở Sài gòn tạm chiếmNhạc Sài gòn xưa)khi theo chân những văn nghệ Việt sĩ lưu vong ra nước ngoài.Nó từng trở lại Việt Nam với tư cách”Ngoài luồng” và chiếm lĩnh một thói quen nghe nhạc ở quán cà phê,phòng khách và phòng ngủ trong gần hai thập niên.Bên cạnh một số bài hát mới được viết nên trong tâm trạng tiêu cực của người thua cuộc,xa nhà,mất quê hương,nhạc Hải ngoại như một khu vườn dĩ vãng của những bản tình ca cũ với những hoài niệm vàng son của nhiều thế hệ nghe nhạc,từ những bài lãng mạn thời tiền chiến cho đến những bài sinh ra trong thời đại nhạc vàng,bao gồm cả những bài tình tự quê hương bình dân với âm hưởng dân tộc vỗ về cho nỗi nhớ của những người tha hương.Tình cờ nó đáp ứng luôn cả nhu cầu của người nghe nhạc trong nước vì thời kỳ này những bản tình ca mới của Adam và Eva ít được viết ra.Nhạc Hải ngoại còn hấp dẫn người nghe nhờ những kỹ thuật âm thanh,phong cách biểu diễn hiện đại…”cầu viện”được ngay tại những quốc gia hàng đầu về âm nhạc,trong khi những kỹ thuật đó trong nước đã trở nên lạc hậu.

Nhưng đến khoảng năm 95 nhạc Hải ngoại bắt đầu”thoái vị”trong nước và dần dần tan loãng tại xứ người.

Cơn sốt ngắn của Tình ca mới và cú sốc sau đó…

Đầu thập niên 90 nhu cầu về nhạc tình cho giới trẻ bắt đầu được quan tâm bằng một cuộc thi sáng tác ca khúc trẻ do Hội Liên hiệp thanh niên và báo Thanh niên tổ chức.Lúc này những bản tình ca không công-nông trường-nhà máy,không bộ đội-hải đảo-biên giới dần dần được phép và có đất để phổ biến.Đến khi đất nước mở cửa và bước vào nền kinh tế thị trường thì nhạc tình với tư cách là một sản phẩm tiêu thụ đã bùng nổ và tạo nên hiện tượng là”Nhạc Việt lên ngôi”vào năm 96,đẩy lùi nhạc Hải ngoại với những bài tình ca cũ,trả dĩ vãng về với dĩ vãng.Xuất hiện cùng với nó là một thế hệ viết nhạc mới,một đội ngũ ca sĩ mới hát cho một thế hệ nghe nhạc mới.

Dòng chảy tình ca mới này có gì không cũ?Đó là sự du nhập rất nhanh những yếu tố kỹ thuật và phong cách hiện đại của nhạc trẻ nước ngoài nhờ sự thông thương và giao lưu văn hoá không còn khép kín như hai thập niên trước nữa.Nhưng nội dung thì vẫn thế và nhạc tính do sự chi phối của thương mại vượt qua cảm hứng đã khiến những giá trị sáng tạo,những nét bản sắc trở nên mờ nhạt hơn bao giờ hết.Nhưng nó đã đáp ứng đúng nhu cầu của giới trẻ,của thị hiếu nghe nhạc thời đại mới:Từ văn hoá jean,văn hoá xe máy đến tình yêu của fastfood,mobile phone và internet.Bấy nhiêu cũng đủ để những bản tình ca mới tạo nên một hiệu ứng đặc biệt về mặt xã hội và sinh hoạt văn hoá đầy ấn tượng mạnh có thể so sánh với sự ra đời của Tân nhạc lãng mạn buổi đầu(Dĩ nhiên là chưa xét về mặt hàm lượng nghệ thuật).Còn lực lương sáng tác?Cũng rất đông đảo và đa dạng.Nhưng trong bài viết này tôi chưa muốn đề cập đến một ai trong thế hệ đó vì thời gian tác phẩm của họ còn quá ngắn.Một cái nhìn tổng kết hoặc sơ kết hay phân chia thứ lớp hoặc phong cách cho họ trong lúc này dễ sa vào lầm lẫn và nóng vội.Hơn nửa thập niên nữa sẽ có cái nhìn chính xác hơn về dòng chảy tình ca này.

Nhưng giai đoạn hào hứng này giảm nhiệt rất mau chóng khi bước sang thiên niên kỷ mới.Có lẽ”tiếng sét ái tình”nhạc trẻ mới đã dứt khi người ta tỉnh táo nhìn lại chân dung người tình.Ngờ ngợ rồi vỡ lẽ.Tất cả đã đưa đến “biến cố tháng tư” vừa rồi,một biến cố độc nhất vô nhị trong lịch sử âm nhạc Việt Nam với những cái tên gọi đáng buồn và hổ thẹn:”Đạo” nhạc,nhạc“nhái”.

“Khi lên đến đỉnh,cái ta thấy là vực thẳm”Phải chăng nhạc Việt đang đặt chân xuống triền dốc đó?Hay nó chỉ là một liệu pháp cú sốc để nhạc Việt nạp năng lượng mới cho một cuộc bứt phá mới ngoạn muc và thú vị hơn bất kỳ một giai đoạn nào trong quá khứ?

T.M.P

(Kỳ cuối : Bài 11-Tương lai nào cho nhạc Việt?)


Back To Top